Viêm tai giữa

Viêm tai giữa
Otitis media entdifferenziert2.jpg
màng nhĩ phồng, một dấu hiệu điển hình ở một ca viêm tai giữa cấp
Chuyên khoa Khoa tai mũi họng
ICD- 10 H65-H67
ICD- 9-CM 017.40, 055.2, 381.0, 381.1, 381.2, 381.3, 381.4, 382
DiseasesDB 29620 dịch,
9406 sinh mủ
MedlinePlus 000638 cấp, 007010 có dịch tiết, 000619 mạn
eMedicine emerg/351
ent/426 biến chứng, ent/209 có dịch tiết, ent/212 Điều trị nội khoa, ent/211 Điều trị phẫu thuật ped/1689
MeSH D010033

Viêm tai giữa là một nhóm các bệnh ở tai giữa. [1] Có hai dạng chính là viêm tai giữa cấp tính(VTGC)viêm tai giữa có dịch tiết (VTGTD). [2] VTGC là một bệnh nhiễm trùng khởi phát đột ngột thường với triệu chứng đau tai. Ở trẻ em nhỏ đau tai thường làm bé kéo dật tai, khóc nhiều hơn, và ngủ kém. Ngoài ra, còn có khi ta thấy bé sốt và ăn uống kém đi. VTGTD thường không có các triệu chứng cơ năng chỉ điểm. [3] Đôi khi bệnh nhân mô tả một cảm giác đầy nặng tai. VTGTD được định nghĩa là tình trạng tai giữa nhìn thấy dịch không nhiễm trùng trong hơn ba tháng. Viêm tai giữa sinh mủ mạn tính(VTGM) là bệnh viêm tai giữa kéo dài hơn hai tuần và tình trạng này phải gây ra nhiều đợt chảy mủ ra lỗ tai. Đôi khi nguyên nhân là biến chứng từ viêm tai giữa cấp. Bệnh nhân thường hiếm khi thấy đau tai. [4] Cả ba dạng trên đều có thể liên quan đến tình trạng khiếm thính ở bệnh nhân. [1] [2] Mất thính lực trong VTGTD, do là bệnh kéo dài, có thể ảnh hưởng đến khả năng học ở trẻ mắc bệnh. [4]

Nguyên nhân gây ra VTGC có liên quan đến cả cấu trúc giải phẫuchức năng miễn dịch ở trẻ em. Tình trạng nhiễm trùng có thể là do vi khuẩn hoặc virút. Yếu tố nguy cơ gồm có sự phơi nhiễm khói, sử dụng núm vú giả, và việc đi nhà giữ trẻ. Bệnh thường xảy ra nhiều hơn ở những người mắc hội chứng Down. [4] VTGTD thường theo sau VTGC và có thể liên quan đến các yếu tố như nhiễm virút hô hấp trên, các chất gây kích thích như khói, hay dị ứng. [2] [4] Để chẩn đoán chính xác VTG rất cần đến việc quan sát màng nhĩ. [5] Các triệu chứng thực thể của VTGC bao gồm màng nhĩ phồng hoặc không di động khi bơm khí vào tai. [3] [6] Dịch chảy ra từ tai không liên quan đến viêm ống tai ngoài cũng xác định cho chẩn đoán.

Có một vài phương pháp phòng ngừa nguy cơ viêm tai giữa bao gồm sử dụng vắcxin phòng pneumococcus và influenza, bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời, và tránh khói thuốc lá. [3] Điều trị quan trọng là việc sử dụng các thuốc giảm đau. [3] Có thể là paracetamol (acetaminophen), ibuprofen, thuốc nhỏ tai benzocaine, hay opioids. [3] Trường hợp VTGC, kháng sinh có thể giúp bệnh khỏe nhanh hơn nhưng có thể gây ra các tác dụng phụ. [7] Kháng sinh thường chỉ được đề nghị ở những bệnh nhân nặng hoặc nhỏ hơn hai tuổi. Ở những ca bệnh nhẹ hơn thường chỉ được đề nghị kháng sinh nếu bệnh không cải thiện sau hai đến ba ngày. [6] Kháng sinh hàng đầu tiên được chọn thường là amoxicillin. Ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng tai giữa thường xuyên, ống thông nhĩ có thể giúp giảm tái phát. [3] Ở trẻ em mắc viêm tai giữa có dịch tiết, kháng sinh có thể giúp giải quyết triệu chứng, nhưng cũng có thể gây ra tiêu chảy, nôn ói, và nổi ban da. [8]

Tính trên toàn thế giới, VTGC ảnh hưởng đến 11% số người một năm (khoảng 325 đến 710 triệu ca). [9] [10] Phân nửa số ca là trẻ em dưới năm tuổi và bệnh thường gặp hơn ở nam giới. [11] [9] Trong số người mắc, khoảng 4,8% hay 31 triệu người mắc VTGC bệnh phát triển thành viêm tai giữa sinh mủ mạn. [9] Trước mười tuổi, VTGTD ảnh hưởng đến khoảng 80% trẻ em ở một thời điểm nào đó. [11] Viêm tai giữa gây ra 2.400 cái chết vào năm 2013 - giảm từ 4900 ca tử vong vào năm 1900. [12]

Bệnh viêm tai giữa

Màng nhĩ của tai bị viêm giữa

Viêm tai giữa ở trẻ em thường là viêm cấp do nhiễm trùng hoặc ứ đọng dịch trong hòm tai mà thành. [13] Do đặc điểm giải phẫu và sinh lý của trẻ em có nhiều điểm khác biệt với người lớn, nên trẻ em thường hay bị viêm tai giữa cấp hơn:

  • Trẻ em hay bị viêm mũi họng, vi khuẩn sẽ từ các ổ viêm này lan lên tai gây nên viêm tai giữa.
  • Ở trẻ em, vòi nhĩ (vòi Ơ-xtat, eustachian tube), nối hòm tai và họng mũi) ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi trùng và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa, nhất là khi em bé nằm ngửa thì tai sẽ ở vị trí thấp hơn mũi họng, nếu em bé khóc, vòi nhĩ sẽ mở rộng thêm làm cho các chất xuất tiết ở mũi họng theo đó chảy vào hòm tai.
  • Hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản...) ở trẻ em rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích hóa, lý và cơ học bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai gây viêm tai giữa.
En otros idiomas
Acèh: Tungkiëk
Aymar aru: Jinchu usu
Bahasa Indonesia: Radang telinga tengah
български: Отит
English: Otitis media
español: Otitis media
한국어: 중이염
Հայերեն: Ականջահոսք
italiano: Otite media
Kiswahili: Uvimbe wa sikio
日本語: 中耳炎
português: Otite média
română: Otită
Runa Simi: Rinri nanay
русский: Средний отит
srpskohrvatski / српскохрватски: Zapaljenje srednjeg uva
中文: 中耳炎