Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
Seal of the United States Marine Corps.svg

Con dấu Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
Hoạt động10/11/1775-đến nay
Quốc giaHoa Kỳ
Quân chủngThủy quân lục chiến
Lực lượng195.000 hiện dịch(tính đến 2013)[1][2]
40.000 trừ bị(tính đến 2009)[2][3]
Bộ phận thuộcBộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Bộ Hải quân Hoa Kỳ
Tổng hành dinhkhắp nơi trong Vùng đô thị Washington
biệt danh"The Few, The Proud"
(ít nhưng hãnh diện)
Khẩu hiệu"Semper Fidelis"
(luôn trung thành)
Màu sắcđỏ tươivàng         
Hành khúcMarine's Hymn
Tham chiếnChiến tranh Cách mạng Mỹ
Chiến tranh Mỹ-Mexico
Nội chiến Hoa Kỳ
Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha
Chiến tranh Mỹ-Philippines
Chiến tranh chống Nghĩa Hòa Đoàn
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh vùng vịnh
Chiến tranh Kosovo
Chiến tranh Afghanistan
Chiến tranh Iraq
Các tư lệnh
Tham mưu trưởngĐại tướng James T. Conway
Tham mưu phóĐại tướng James F. Amos
Quân hiệu
Đại bàng, địa cầu và mỏ neo
Globeanchor.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kíchAV-8B, F/A-18D
Điện tửEA-6B
Khu trụcF/A-18A/C
Trực thăngAH-1W, UH-1N, CH-46E, CH-53D, CH-53E, MV-22
Thám thínhRQ-7, ScanEagle
Vận tảiKC-130J

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (United States Marine Corps) là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ có trách nhiệm cung cấp lực lượng tiến công từ phía biển,[4] sử dụng phương tiện vận chuyển của Hải quân Hoa Kỳ để nhanh chóng đưa các lực lượng đặc nhiệm vũ trang hỗn hợp. Nó là một trong số 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ. Theo cơ cấu lãnh đạo dân sự trong Quân đội Hoa Kỳ thì Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ là một thành phần của Bộ Hải quân Hoa Kỳ,[5][6] thường hoạt động sát cánh bên các lực lượng hải quân Hoa Kỳ cho các mục đích huấn luyện, vận chuyển và tiếp vận. Tuy nhiên, theo cơ cấu lãnh đạo quân sự thì Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ là một quân chủng riêng biệt.[7]

Đại úy Samuel Nicholas thành lập hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến Lục địa vào ngày 10 tháng 11 năm 1775 tại Philadelphia với vai trò như bộ binh hải quân.[8] Kể từ đó, sứ mệnh của Thủy quân lục chiến tiến hóa cùng với chính sách ngoại giao và học thuyết quân sự biến đổi của Hoa Kỳ. Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã phục vụ trong mọi cuộc xung đột quân sự của Mỹ và được nổi bật trong thế kỷ 20 khi các lý thuyết và thực tiễn của chiến tranh đổ bộ từ biển cho thấy kết quả khả quan và sau hết đã tạo nên trụ cột tại mặt trận Thái Bình Dương trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.[9] Vào giữa thế kỷ 20, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã trở thành những lý thuyết gia và chuyên gia về chiến tranh đổ bộ từ biển.[10][11][12] Khả năng của quân chủng phản ứng nhanh đối với các cuộc khủng hoảng vùng đã chứng tỏ rằng quân chủng có một vai trò mạnh trong việc triển khai và thực hiện chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.[13]

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ có khoảng trên 203.000 binh sĩ (tính đến tháng 10 năm 2009) hiện dịch[1][2] và dưới 40.000 binh sĩ trừ bị.[3] Nó là quân chủng nhỏ nhất trong các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (Tuần duyên Hoa Kỳ nhỏ hơn, khoảng 1/5 quân số của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng nó thường ngày nằm dưới quyền của Bộ Nội an Hoa Kỳ). Tuy nhiên Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ lớn hơn toàn bộ lực lượng vũ trang của một số cường quốc quân sự nổi bật khác, thí dụ như nó lớn hơn lực lượng vũ trang hiện dịch của Israel hay toàn bộ Lục quân Anh.[14][15]

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ chiếm khoảng 6% ngân sách quân sự của Hoa Kỳ. Chi tiêu cho mỗi binh sĩ thủy quân lục chiến là $20.000 ít hơn chi tiêu cho bất cứ binh sĩ nào trong các quân chủng khác. Toàn bộ lực lượng có thể được sử dụng cho cả các chiến dịch lớn và các chiến dịch thủy bộ.[16]

En otros idiomas
Bân-lâm-gú: Bí-kok Hái-peng-tūi
한국어: 미국 해병대
srpskohrvatski / српскохрватски: Marinski zbor SAD