Shepseskare

Shepseskare hoặc Shepseskara (có nghĩa là "Cao quý thay khi là linh hồn của Ra") [15] là một pharaon của Ai Cập cổ đại, ông có thể là vị vua thứ tư hoặc thứ năm của vương triều thứ năm (2494-2345 trước Công nguyên) thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Shepseskare sống vào giữa thế kỷ thứ 25 TCN và có lẽ là chủ nhân của một kim tự tháp dang dở ở Abusir, nó đã bị bỏ dở chỉ sau vài tuần xây dựng.

Theo các ghi chép lịch sử, Shepseskare thường tin rằng là đã cai trị trong 7 năm, ông đã kế vị vua Neferirkare Kakai và là tiên vương của Neferefre, do đó ông là vị vua thứ tư của vương triều này. Vì là vị vua ít được biết đến nhất của vương triều thứ năm cho nên nhà Ai Cập học  Miroslav Verner đã đưa ra kết luận cho rằng Shepseskare chỉ cai trị vài tháng ngắn ngủi, tiếp sau đó là đến triều đại của Neferefre. Kết luận này dựa trên tình trạng và vị trí của kim tự tháp dang dở mà Shepseskare cho xây dựng tại Abusir cũng như có rất ít các hiện vật mà có thể được cho là thuộc về vị vua này. Kết luận của Verner nhanh chóng nhận được sự đồng tình của nhiều nhà Ai Cập học như Darrell Baker và  Erik Hornung.

Mối quan hệ giữa Shepseskare với vị tiên vương và vị vua kế vị ông lại vẫn chưa được biết rõ. Verner đã đề xuất rằng ông là một người con trai của  Sahure và là em trai của Neferirkare Kakai, ông đã chiếm đoạt ngai vàng trong một thời gian ngắn sau khi vua Neferefre, có lẽ là cháu trai của ông, đột ngột qua đời. Có thể Shepseskare đã qua đời một cách đột ngột hoặc có lẽ ông đã đánh mất ngôi vị vào tay một người cháu trai khác, vị pharaon tương lai Nyuserre Ini. Khả năng cho rằng Shepseskare là một kẻ tiếm vị không thuộc hoàng tộc cũng chưa được loại trừ.

Chứng thực

Nguồn đương thời

Shepseskare là một vị vua của  Ai Cập cổ đại, ông là vị vua thứ tư hoặc thứ năm [16] của vương triều thứ năm. Vào thời điểm đó Ai Cập là một vương quốc thống nhất, với kinh đô đặt tại  Memphis [17]. Ông là vị vua ít được biết đến nhất của vương triều thứ năm bởi vì chỉ còn rất ít hiện vật có niên đại thuộc về triều đại của ông mà còn tồn tại tới ngày nay. Chỉ có hai con dấu hình trụ thuộc về triều đại của ông được phát hiện: một được làm bằng đồng có khắc tên Horus của Shepseskare được phát hiện trong đống đổ nát của thành phố Memphis vào đầu thế kỷ 20 [18]. Con dấu thứ hai-không rõ nguồn gốc- được tạc bằng đá serpentin màu đen và khắc dòng chữ: "Shepseskare yêu quý của các vị thần, Shepseskare yêu quý của Hathor" [19]. Ngoài hai con dấu này ra, những hiện vật duy nhất còn tồn tại tới ngày nay được quy cho Shepseskare đó là năm mảnh vỡ của vết dấu triện trên đất sét từ Abusir và sáu mảnh vỡ khác được phát hiện trong ngôi đền tang lễ và phòng chứa Dao của kim tự tháp Neferefre cũng tại Abusir [20] [21]. Những mảnh vỡ này có thể thuộc về ba con dấu khác nhau và nhiều khả năng chúng được đặt ngay tại cửa vào căn phòng trưng bày trong ngôi đền [22].

Drawing of the impression of a scaraboid seal with a seated man reading Shepes in the center and a sun disk reading Ra on the right.
Bản vẽ Con dấu bọ hung của Flinders Petrie, dòng chữ được đọc là "Shepeskare" nhưng có thể có niên đại thuộc về thời kỳ Saite. [23]

Cuối cùng, chỉ có duy nhất một con dấu bọ hung được đọc là "Shepeskare", nó được nhà Ai Cập học Flinders Petrie xác định là thuộc về Shepseskare vào cuối thế kỷ 19. [24]Các nhà nghiên cứu ngày nay nghi ngờ về điều này và phần nào tin rằng con dấu bọ hung này là một tác phẩm thuộc về thời kỳ Saite (685-525 TCN) và nó được chế tác theo phong cách cổ xưa [25] [26]. Ngoài ra, con dấu bọ hung này có thể thuộc về Gemenefkhonsbak Shepeskare, một tiểu vương ít được biết đến của Tanis trong thời kỳ vương triều thứ 25 (760-656 TCN) [25] [26]

Ghi chép lịch sử

Bản danh sách vua duy nhất [25] có nhắc đến Shepseskare đó là Bản khắc Saqqara (mục thứ 28) [27]. Phiến đá này được chạm khắc dưới thời vua Ramesses II (1279-1213 TCN), khoảng 1200 năm sau triều đại của Shepseskare, và nó đã ghi lại thứ tự kế vị như sau Neferikare → Shepseskare → Neferkhare (một cách gọi khác của Neferefre) [28]. Tên của Shepseskare đã không hề xuất hiện trong một bản danh sách vua khác có cùng niên đại: Danh sách vua Abydos, nó được viết dưới triều đại của Seti I (1294-1279 TCN). Ông cũng không có tên trong bản danh sách vua Turin (được viết dưới triều đại của Ramses II)

Shepseskare cũng có thể được đề cập đến trong tác phẩm Aegyptiaca, một tác phẩm ghi lại lịch sử của Ai Cập được vị tư tế Manetho viết vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên dưới triều đại của vua Ptolemy II (283-246 TCN). Không có bất cứ bản sao nào của tác phẩm Aegyptiaca còn tồn tại cho đến ngày nay và chúng ta chỉ có thể biết đến tác phẩm trên thông qua các ghi chép sau này của Sextus Julius Africanus và Eusebius. Africanus ghi lại rằng tác phẩm Aegyptiaca đề cập đến sự kế vị như sau "Nefercheres → Sisires → Cheres" trong giai đoạn trung kỳ của vương triều thứ Năm. Nefercheres và Cheres được cho là cách viết theo tiếng Hy Lạp của các vị vua Neferirkare và Neferkhare (tức là vua Neferefre). Do đó, "Sisires" theo truyền thống được cho là tên gọi theo tiếng Hy Lạp của vua Shepseskare, điều này khiến cho sự phục dựng lại vương triều thứ Năm của Manetho phù hợp với bản khắc Saqqara [28]. Hơn nữa theo Africanus, Manetho ghi lại rằng Sisires đã cai trị trong 7 năm trong khi các nguồn ghi chép khác lại mâu thuẫn với con số của Manetho là chín năm [3].

En otros idiomas
Afrikaans: Sjepseskare
العربية: شبسس كارع
català: Shepsekare
čeština: Šepseskare
Deutsch: Schepseskare
English: Shepseskare
español: Shepseskara
Esperanto: Ŝepseskara
euskara: Shepseskara
français: Chepseskarê
한국어: 솁세스카레
hrvatski: Šepseskara Isi
italiano: Shepseskara
ქართული: შეპსესკარა
lietuvių: Šepseskarė
Nederlands: Sjepseskare
occitan: Shepseskara
polski: Szepseskare
português: Chepseskaré
română: Shepseskare Isi
русский: Шепсескара
српски / srpski: Шепсескаре
srpskohrvatski / српскохрватски: Shepseskare Isi
svenska: Shepseskara
українська: Шепсескара
Yorùbá: Shepseskare Isi