Janus (vệ tinh)

Janus
PIA12714 Janus crop.jpg
Janus as imaged by Cassini on 2010-04-07: highest-resolution full-disk image to date
Khám phá
Khám phá bởiAudouin Dollfus
Ngày khám phá15 tháng 12 năm 1966
Tên chỉ định
Phiên âm/ˈnəs/ JAY-nəs
Đặt tên theoJanus
Tính từJanian
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên December 31, 2003 (JD 2 453 005.5)
Bán trục lớn&0000000151460000.000000151460+10 km
Độ lệch tâm&-1-100000000000000.0068000.0068
Chu kỳ quỹ đạo&0000000000060018.6535490.694660342 d
Độ nghiêng quỹ đạo&-1-100000000000000.0028450.163°+0.004° ° so với xích đạo của Sao Thổ
vệ tinh củaSao Thổ
Đặc trưng vật lý
Kích thước203 × 185 × 152.6 km [2]
Bán kính trung bình&0000000000089500.00000089.5+1.4 km [2]
Thể tích≈ &0000000000716000.000000716000 km³
Khối lượng&7500000000009000.000000(1.8975+0.0006)×1018 kg[2]
Mật độ khối lượng thể tích&0000000000000000.6300000.63+0.03 g/cm³[2]
Hấp dẫn bề mặt0.011–0.017 m/s2[2]
Chu kỳ tự quayđồng bộ chuyển động quay
Độ nghiêng trục quaykhông
Suất phản chiếu&0000000000000000.7100000.71+0.02 (hình học) [3]

Janus là một vệ tinh bên trong của Sao Thổ. Nó cũng được biết đến là Saturn X. Nó được đặt tên theo vị thần Janus trong thần thoại.

Lịch sử

Phát hiện

Vệ tinh Janus được phát hiện bởi Audouin Dollfus vào ngày 15 tháng 12 năm 1966[4] và được đặt ký hiệu tạm thời là S/1966 S 2. Trước đó, Jean Texereau đã chụp được ảnh của vệ tinh Janus vào ngày 29 tháng 10 năm 1966 mà không nhận ra nó. Vào ngày 18 tháng 12, Richard Walker quan sát một vật thể có cùng quỹ đạo với vệ tinh Janus, nhưng vị trí của nó không thể được thống nhất với các quan sát trước đó. Mười hai năm sau, vào tháng 10 năm 1978, Stephen M. Larson và John W. Fountain nhận ra rằng những quan sát vào năm 1966 có thể được giải thích một cách tốt nhất bởi hai vật thể tách biệt (vệ tinh Janus và vệ tinh Epimetheus) có cùng một quỹ đạo rất giống nhau,[5] Walker giờ được tôn vinh là người khám phá ra vệ tinh Epimetheus.[6] Voyager 1 xác nhận hình thể quỹ đạo này vào năm 1980.[7]

Lịch sử quan sát

Janus được quan sát vào các dịp sau đó và được đặt những ký hiệu tạm thời khác nhau. Ba máy dò hạt năng lượng của Pioneer 11 dò được "bóng" của nó khi tàu thăm dò bay qua Sao Thổ vào ngày 1 tháng 9 năm 1979 (S/1979 S 2.[8]) Janus được quan sát bởi Dan Pascu vào ngày 19 tháng 2 năm 1980 (S/1980 S 1,[9]) và sau đó là bởi John W. Fountain, Stephen M. Larson, Harold J. Reitsema và Bradford A. Smith vào ngày 23 tháng 2 năm 1980 (S/1980 S 2.[10])

Tên gọi

Vệ tinh Janus được đặt tên theo vị thần La Mã hai mặt Janus. Mặc dù cái tên này được đề xuất một cách không chính thức ngay sau lần phát hiện năm 1966 ban đầu,[11] nhưng phải đến tận năm 1983 nó mới được đặt tên chính thức,[a] khi vệ tinh Epimetheus cũng được đặt tên.

Từ điển tiếng Anh Oxford liệt kê dạng tính từ của tên của vệ tinh này là Janian.

En otros idiomas
العربية: جانوس (قمر)
Bahasa Indonesia: Janus (satelit)
Bân-lâm-gú: Janus (oē-chheⁿ)
беларуская: Янус (спадарожнік)
brezhoneg: Janus (loarenn)
български: Янус (спътник)
čeština: Janus (měsíc)
Deutsch: Janus (Mond)
English: Janus (moon)
Esperanto: Jano (luno)
français: Janus (lune)
Gaeilge: Janus
galego: Xano (lúa)
hrvatski: Janus (mjesec)
коми: Янус
Lëtzebuergesch: Janus (Mound)
македонски: Јанус (месечина)
Mìng-dĕ̤ng-ngṳ̄: Janus (ôi-sĭng)
Nederlands: Janus (maan)
norsk nynorsk: Saturnmånen Janus
português: Jano (satélite)
română: Janus (satelit)
Simple English: Janus (moon)
slovenčina: Jánus (mesiac)
slovenščina: Jan (luna)
svenska: Janus (måne)
Tagalog: Janus (buwan)
Türkçe: Janus (uydu)
українська: Янус (супутник)
Winaray: Janus (bulan)
粵語: 土衞十
中文: 土卫十