Hạm đội Tây Ban Nha

Hải chiến Gravelines
Một phần của Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha
The Spanish Armada Leaving the port of Ferrol by Sir Oswald W. Brierly 1817-1894.jpg
.
Thời gian 8 tháng 8 1588
Địa điểm Eo biển Manche, gần Gravelines, sau đó là một phần của Hà Lan
Kết quả Chiến thắng quyết định của Hải quân Anh [1] [2]
Tham chiến
Anh Vương quốc Anh
Cộng hòa Hà Lan Cộng hòa Hà Lan
  Tây Ban Nha
  • Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha dưới Philip của Tây Ban Nha
Chỉ huy
Huân tước Howard xứ Effingham
Francis Drake
Công tước Medina Sidonia
Lực lượng
34 tàu chiến [3]
163 tàu buôn vũ khí
(30 chiếc trên 200 tấn) [3]
30 flyboats
22 galleon của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
108 tàu buôn vũ khí [4]
Tổn thất
Trận Gravelines:
50–100 chết [5]
400 bị thương
8 tàu fire bị cháy [6]
Disease:
6,000-8,000 chết
Trận Gravelines:
Hơn 600 chết
800 bị thương [7]
397 captured
5 tàu bị chìm hoặc bị bắt giữ [8]
Storms/Disease:
51 bị đánh chìm
10 bị đục thủng [9]
20,000 chết [10]
.

Hạm đội Tây Ban Nha ( tiếng Tây Ban Nha: Grande y Felicísima Armada, "Hải quân vĩ đại và may mắn nhất") là hạm đội Tây Ban Nha đã giong buồm khởi hành từ bán đảo Iberia đến quần đảo Anh vào năm 1588 dưới sự chỉ huy của Công tước Medina Sidonia, với ý định lật đổ Elizabeth I của Anh để ngăn chặn sự dính líu của Anh tới Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và những cuộc săn bắt tàu lùng ở Thái Bình DươngĐại Tây Dương của Anh. Đây là cuộc giao tranh lớn nhất trong Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha (1585–1604).

Với ý nghĩa trọng đại, đại thắng Gravelines của Hải quân Anh được ghi dấu cho thời kỳ vàng son của đất nước dưới triều Nữ hoàng Elizabeth I. Chiến tích ấy là khởi điểm cho thế thượng phong trên biển của nước Anh, và bảo tồn đức tin Kháng Cách. [11]

Với thắng lợi của Hả quân Anh, trận Gravelines được coi là một trong những trận hải chiến nổi bật nhất trong lịch sử thế giới. [11] Thắng lợi của Elizabeth I trước vua Tây Ban Nha là Felipe II đã góp phần đem lại niềm tự hào dân tộc cho Anh Quốc. [12]

Bối cảnh

Sau những thất bại thảm hại trong vụ Le Havre từ năm 1562-1563, nữ hoàng Elizabeth I của Anh chống lại việc mở các cuộc viễn chinh nhắm vào lục địa Âu châu mãi cho đến năm 1585, khi nữ hoàng cử một đạo quân đến hỗ trợ lực lượng phiến quân Kháng Cách tại Hà Lan đang chống lại vua Tây Ban Nha Felipe II. Sau khi những đồng minh của Elizabeth, Hoàng thân Guillaume I của Orange-Nassau, và François (Công tước Anjou) từ trần, và một loạt các thị trấn Hà Lan chịu thần phục Alexander Farnese Công tước xứ Parma, Thống đốc Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Tháng 12 năm 1584, liên minh giữa Felipe II và Liên đoàn Công giáo Pháp tại Joinville làm xói mòn sức mạnh của Henri III của Pháp, em của Anjou, trong nỗ lực chống lại quyền thống trị của Tây Ban Nha tại Hà Lan. Nó cũng mở rộng ảnh hưởng của Tây Ban Nha dọc theo Eo biển Manche trên đất Pháp và trở thành mối đe dọa đối với nước Anh [13]. Tháng 8 năm 1585, Anh và Hà Lan phản ứng bằng cách ký kết Hiệp ước Nonsuch, theo đó Elizabeth cam kết hỗ trợ quân sự cho Hà Lan. Hiệp ước này đánh dấu sự bùng nổ Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha.

En otros idiomas
Afrikaans: Spaanse Armada
العربية: الأرمادا
azərbaycanca: Yenilməz armada
Bahasa Indonesia: Armada Spanyol
Bahasa Melayu: Armada Sepanyol
한국어: 무적함대
မြန်မာဘာသာ: စပိန်ရေတပ်ကြီး
Nederlands: Spaanse Armada
português: Invencível Armada
Simple English: Spanish Armada
سنڌي: آرميڊا
српски / srpski: Шпанска армада
українська: Іспанська Армада
吴语: 无敌舰队