Hóa thạch

Hóa thạch của loài Seymouria (đã tuyệt chủng)
Gỗ hóa thạch tại Vườn quốc gia rừng hóa đá. Cấu trúc bên trong của cây và vỏ cây được duy trì trong quy trình hoán vị.
Hóa thạch của một loài trong Cúc đá

Hóa thạch là những di tích và di thể (xác) của sinh vật được bảo tồn trong các lớp đá, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngành cổ sinh vật học... [1]

Trải qua một thời gian dài tồn tại của Trái đất, đã có rất nhiều sinh vật từng sinh sống [2]. Những sinh vật này sau khi chết, xác hoặc những dấu vết của các hoạt động sống là những chứng cứ được lưu giữ lại, theo sau một thời gian xác của chúng bị phân hủy (thối rữa), chỉ những bộ phần cứng như vỏ xương hoặc cành cây... được bao bọc bởi các trầm tích vật và trải qua quá trình hóa thạch để trở thành đá, nhưng vẫn giữ lại được những hình thái kết cấu (thậm chí một vài chi tiết nhỏ cấu tạo bên trong) đồng thời những dấu vết hoạt động của những sinh vật thời kỳ đó cũng được bảo lưu như vậy [3][4].

Nguồn gốc tên gọi "hóa thạch" trong tiếng Anh, từ "fossil" bắt nguồn từ latinh "fossilis" với nghĩa là "đào lên".

Lịch sử nghiên cứu hóa thạch

Hóa thạch một loài bọ ba thùy (tên khoa học: Pseudoasaphus praecurrens), niên đại: Đại Cổ Sinh, Kỷ Ordovic (468 – 460 triệu năm trước), phát hiện tại bãi trầm tích sông Koporka, Sankt-Peterburg, Nga. Hiện vật hiện trưng bày tại Bảo tàng Toulouse.

Trong những ghi chép còn để lại từ xa xưa, có một nhóm học giả người Hy Lạp đã rất ngạc nhiên trước những di tích tồn tại của cá, vỏ sò và một vài dạng sinh vật biển được tìm thấy ở trên núi và sa mạc. Năm 450 trước công nguyên Herodotus đã đề cập tới sa mạc Ai Cập và cũng khẳng định rằng ở đó trước đây một phần bị bao phủ bởi biển Địa Trung Hải, năm 400 trước công nguyên Aristoteles tuyên bố: "hóa thạch là do vật chất hữu cơ tạo thành, nhưng hóa thạch bị ép vào trong tầng đất đá là do một tác dụng làm mềm trong vỏ trái đất gây ra". Một học trò của ông là Theophrastus năm 350 trước công nguyên cũng đã đưa ra được một vài hóa thạch của các dạng sinh vật, nhưng lại cho rằng hóa thạch do trứng và hạt của cây trong lớp đá phát triển mà thành....

  • Strabo (63-20 TCN) cũng chú ý đến những hóa thạch của các sinh vật biển tìm thấy dưới lớp đất dưới đáy.
  • Trong gia đoạn đen tối của thời kỳ trung cổ, con người có nhiều cách lý giải khác nhau về hóa thạch. Có người cho rằng đó là hiện tượng kỳ bí của thiên nhiên hoặc đó là sản phẩm của ma quỷ tạo ra để mê hoặc con người. Những lời đồn đại mê tín và sự cấm đoán của các tôn giáo đã cản trở việc nghiên cứu hóa thạch vài trăm năm. Mãi đến đầu thế kỷ 15 là thời kỳ khởi nguồn cho việc phổ biến và tiếp thu những kiến thức về hóa thạch, con người đã hiểu rằng hóa thạch là tàn tích của những sinh vật trước kia, nhưng vẫn cho rằng đó là những dấu vết của cuộc đại hồng thủy được ghi trong thánh kinh. Các nhà khoa học và các nhà thần học đã tranh cãi nhau suốt 300 năm sau đó. Đến thời kỳ phục hưng có một vài nhà khoa học đầu tiên mà tiêu biểu là Leonardo da Vinci (1452-1519) đã đề cập tới hóa thạch và đã kiên quyết phủ nhận việc liên quan của hóa thạch với đại hồng thủy, và cũng đã phủ nhận ý kiến cho rằng hóa thạch chỉ xuất hiện ở trên núi cao, họ cũng tin rằng hóa thạch là chứng cứ của những sinh vật cổ đại và cũng cho rằng
  • Biển Địa Trung Hải trước đây đã bao phủ toàn bộ nước Ý trước đây khi đáy biển lên xuống do các hoạt động địa chất hình thành lên bán đảo Italy.
  • Xác của sinh vật cổ đại vẫn được lưu giữ lại trong bề mặt đáy biển.

Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 đã hình thành lên được một cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu hóa thạch và tạo nên một môn khoa học. Từ đó đến nay hóa thạch thường phát hiện chủ yếu tại tầng đá trầm tích ngoài biển. Khi các trầm tích vật như đá vôi, vụn cát, vỏ xương của động vật bị đè nén rồi kết dính với nhau tạo thành đá, và tạo nên một phần trầm tích mặt biển (seafacies). Rất hiếm gặp hóa thạch xuất hiện trong các đá núi lửađá biến chất (metamorphic rock) bởi vì:

  • Đá núi lửa ở trạng thái trước đó là dạng nóng chảy và không tồn tại sự sống.
  • Còn đá biến chất đã trải qua những biến đổi rất lớn mà thành khiến cho hình dạng ban đầu của hóa thạch trong đó hầu như bị phá hủy và không còn lại nguyên vẹn. Tuy vậy nếu như may mắn còn được giữ lại trong lớp đá trầm tích một vài hóa thạch thì đó chỉ là một bộ phận rất nhỏ động thực vật thuộc thời kỳ đó mà thôi.

Bằng việc kiểm chứng những điều kiện khắc nghiệt trong quá trình hình thành lên hóa thạch cũng dễ hiểu vì sao những vết tích còn lưu lại trong lớp đá trầm tích (sedimentary rock) cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ còn sót lại từ những sinh vật thuộc thời kỳ trước.

En otros idiomas
Afrikaans: Fossiel
العربية: مستحاثة
asturianu: Fósil
azərbaycanca: Fosil
تۆرکجه: فوسیل
Bahasa Indonesia: Fosil
Bahasa Melayu: Fosil
বাংলা: জীবাশ্ম
Bân-lâm-gú: Hòa-chio̍h
Basa Banyumasan: Fosil
Basa Jawa: Fosil
Basa Sunda: Fosil
беларуская: Акамянеласці
bosanski: Fosili
brezhoneg: Karrekaenn
български: Вкаменелост
català: Fòssil
čeština: Fosilie
Cymraeg: Ffosil
dansk: Fossil
Deutsch: Fossil
eesti: Kivistis
Ελληνικά: Απολίθωμα
English: Fossil
español: Fósil
Esperanto: Fosilio
euskara: Fosil
فارسی: سنگواره
français: Fossile
Frysk: Fossyl
Gaeilge: Iontaise
galego: Fósil
한국어: 화석
हिन्दी: जीवाश्म
hrvatski: Fosil
Ido: Fosilo
íslenska: Steingervingur
italiano: Fossile
עברית: מאובן
қазақша: Қазындылар
Kiswahili: Kisukuku
Kreyòl ayisyen: Fosil
Latina: Fossile
latviešu: Fosilijas
lietuvių: Fosilija
Limburgs: Fossiel
magyar: Fosszília
македонски: Фосил
മലയാളം: ജീവാശ്മം
मराठी: जीवाश्म
Mìng-dĕ̤ng-ngṳ̄: Huá-siŏh
Nederlands: Fossiel
नेपाली: जीवावशेष
日本語: 化石
norsk: Fossil
norsk nynorsk: Fossil
occitan: Fossil
ଓଡ଼ିଆ: ଜୀବାଶ୍ମ
ਪੰਜਾਬੀ: ਪਥਰਾਟ
Plattdüütsch: Fossil
português: Fóssil
română: Fosilă
Runa Simi: Rumiyasqa
русский: Фоссилии
Scots: Fossil
shqip: Fosilet
සිංහල: පොසිල
Simple English: Fossil
سنڌي: فاسل
slovenčina: Fosília
slovenščina: Fosil
српски / srpski: Фосил
srpskohrvatski / српскохрватски: Fosil
suomi: Fossiili
svenska: Fossil
Tagalog: Posil
తెలుగు: శిలాజము
Türkçe: Fosil
اردو: احفور
West-Vlams: Fossiel
Winaray: Posil
ייִדיש: פאסיל
粵語: 化石
中文: 化石