Chiến dịch sự phẫn nộ của Chúa trời

Chiến dịch sự giận dữ của Chúa trời ( tiếng Hebrew: מבצע זעם האל‎, Mivtza Za'am Ha'el) cũng được gọi là Chiến dịch Bayonet, [1] là một chiến dịch mật do IsraelMossad chỉ đạo nhắm tới các cá nhân được cho là có liên quan tới vụ thảm sát Munich năm 1972 trong đó 11 thành viên đội tuyển Olympic Israel đã bị giết hại. Các mục tiêu đều là các thành viên của nhóm chiến binh vũ trang Tháng 9 Đen Palestinevà các thành viên của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO). Được Thủ tướng Israel Golda Meir cho phép vào mùa thu năm 1972, chiến dịch này được cho là đã kéo dài trong hơn 20 năm sau đó.

Chiến dịch này đã được miêu tả lại trong bộ phim truyền hình Sword of Gideon (1986), và Munich (2005) của Steven Spielberg.

Lịch sử

Sau vụ thảm sát Munich tại Olympics mùa hè năm 1972, Thủ tướng Golda Meir đã lập ra Ủy ban X, một nhóm nhỏ các quan chức chính phủ có nhiệm vụ thực hiện hành động trả đũa từ phía Israel, với bà và Bộ trưởng quốc phòng Moshe Dayan làm lãnh đạo. Bà cũng chỉ định Tướng Aharon Yariv làm Cố vấn chống khủng bố của mình; ông này, cùng với Giám đốc Mossad Zvi Zamir, đảm nhiệm vai trò chính trong việc chỉ huy chiến dịch sau đó. Ủy ban đi tới kết luận rằng để ngăn chặn những vụ việc bạo lực nhắm vào Israel trong tương lai, họ cần ám sát những người đã ủng hộ hay tiến hành vụ thảm sát Munich, và thực hiện nó theo cách gây ấn tượng mạnh nhất. Bị áp lực từ phía công chúng Israel và những quan chức tình báo hàng đầu, Meir bất đắc dĩ cho phép chiến dịch ám sát trên diện rộng. [2] Tuy vậy khi ba kẻ tham gia vụ thảm sát Munic được Tây Đức được thả ra chỉ vài tháng sau đó để đáp ứng yêu cầu của những kẻ không tặc một máy bay của Lufthansa, tất cả những do dự của bà đã không còn nữa. [3] Nhiệm vụ đầu tiên của ủy ban cho tình báo Israel là lập ra một danh sách ám sát tất cả những kẻ liên quan tới vụ Munich. Việc này được hoàn thành với sự giúp đỡ của các thành viên PLO đang làm việc cho Mossad, và với thông tin được cung cấp từ các cơ quan tình báo thân cận ở châu Âu. [4] Tuy danh sách đầy đủ không bao giờ được tiết lộ, các báo cáo cho rằng tổng số mục tiêu trong khoảng 20–35, gồm cả các thành viên Tháng 9 Đen và PLO. [nb 1] Khi danh sách đã có, Mossad có nhiệm vụ định vị các cá nhân này và ám sát họ.

Điểm then chốt trong kế hoạch là ý tưởng có thể khước từ, có nghĩa là sẽ không thể chứng minh một mối liên hệ trực tiếp giữa các vụ ám sát và Israel. [5] Ngoài ra, chiến dịch được dự định để gây ra một cảm giác sợ hãi chung trong các chiến binh Palestine. Theo David Kimche, cựu phó giám đốc Mossad, "Mục tiêu không chỉ là trả thù mà chủ yếu khiến chúng [những tên khủng bố Palestine] thấy sợ hãi. Chúng tôi muốn chúng phải nhìn về phía sau và cảm thấy đang bị theo dõi. Và vì thế chúng tôi tìm cách không chỉ thực hiện mọi việc bằng cách bắn giết một tên trên đường phố – điều đó dễ dàng quá... rõ là vậy." [6]

Mọi người cũng biết mật vụ Mossad Michael Harari có nhiệm vụ thành lập và chỉ huy các đội, [7] dù một số không phải luôn luôn thuộc trách nhiệm của chính phủ. Tác gia Simon Reeve giải thích rằng đội của Mossad—có tên theo bảng chữ cái Hebrew—gồm:

...mười lăm người được chia thành năm đội: " Aleph", hai sát thủ chuyên nghiệp; " Bet", hai người làm nhiệm vụ bảo vệ các Alephs; " Het", hai người tạo vỏ bọc cho cả đội bằng cách thuê phòng khách sạn, nhà ở, ô tô và các thứ khác; " Ayin", gồm từ sáu tới tám điệp viên làm xương sống của chiến dịch, bảo vệ các mục tiêu và thiết lập đường thoát cho các đội Aleph và Bet; và " Qoph", hai điệp viên chuyên trách thông tin. [8]

Cách bố trí này tương tự như katsa của Mossad miêu tả của Victor Ostrovsky về các đội ám sát của Mossad, Kidon. Trên thực tế, Ostrovsky nói trong cuốn sách của ông rằng chính các đơn vị Kidon thực hiện các vụ ám sát. [9] Điều này được tác giả Gordon Thomas người đã được tiếp cận một số báo cáo thẩm vấn do tám thành viên đội Kidon và 80 thành viên hỗ trợ tham gia vào các vụ ám sát ủng hộ. [10]

Một báo cáo khác của tác giả Aaron Klein nói rằng các đội đó thực ra là thuộc một đơn vị tên là Caesarea, sẽ được đổi tên và tái tổ chức vào Kidon hồi giữa những năm 1970. [11] Harari cuối cùng chỉ huy ba đội Caesarea với khoảng 12 người mỗi đội. Họ tiếp tục được chia thành các đội hậu cầu, trinh sát và ám sát. [12]

Một trong các đội bí mật đã bị phát giác sau vụ Lillehammer (xem đoạn Ali Hassan Salameh dưới đây), khi sáu thành viên đội ám sát của Mossad bị chính quyền Na Uy bắt giữ. Harari trốn thoát về Israel, và có lẽ một số người khác cũng trốn thoát được cùng anh ta. Một bài báo trên tạp chí Time ngay sau vụ ám sát nói tổng số thành viên Mossad là 15 người, [13] cũng tương tự như các miêu tả ở trên.

Một tường thuật khác có từ cuốn sách Vengeance, trong đó tác giả cho rằng, theo nguồn tin của anh ta, Mossad đã lập ra đội gồm năm đặc vụ đã được huấn luyện mà anh ta [nguồn tin] chỉ huy tại châu Âu. Cuốn sách cũng nói rằng đội hoạt động bên ngoài sự chỉ huy trực tiếp của chính phủ, và chỉ liên hệ với Harari. [5]

Nhiều giờ trước mỗi vụ ám sát, mỗi gia đình của mục tiêu sẽ nhận được hoa với thiệp chia buồn viết: "Một sự tưởng nhớ chúng tôi không quên hay tha thứ." [10]