Chiến dịch Barbarossa

Chiến dịch Barbarossa
Một phần của Chiến tranh Xô-Đức trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Operation Barbarossa corrected border.png
Kế hoạch của Đức trong chiến dịch Barbarossa.
.
Thời gian22 tháng 6 năm 194115 tháng 2 năm 1942
Địa điểmBa Lan, Belorussia, Ukraina, Moldova, Litva, Latvia, Estonia, Lãnh thổ Liên Xô tại châu Âu
Kết quảQuân đội phe Trục kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô và gây thiệt hại nặng cho Hồng quân Liên Xô, nhưng thất bại trong việc đạt được mục tiêu chiến lược là đánh bại Liên Xô bằng một cuộc chiến tranh chớp nhoáng.
Tham chiến
Đức Quốc xã Đức Quốc xã
România Romania
Phần Lan Phần Lan
Ý Phát xít Ý
Hungary Hungary
Slovakia Slovakia
Croatia Croatia
Liên Xô Liên Xô
Chỉ huy
Đức Quốc xã Adolf Hitler
Đức Quốc xã Franz Halder
Đức Quốc xã Wilhelm Ritter von Leeb
Đức Quốc xã Fedor von Bock
Đức Quốc xã Gerd von Rundstedt
România Ion Antonescu
Phần Lan Carl Gustaf Emil Mannerheim
Liên Xô Iosif Stalin
Liên Xô Georgiy Zhukov
Liên Xô Aleksandr Vasilyevskiy
Liên Xô Semeon Budyonny
Liên Xô Kliment Voroshilov
Liên Xô Semeon Timoshenko
Liên Xô Markian Popov
Liên Xô Fedor Kuznetsov
Liên Xô Dmitry Pavlov  
Liên Xô Ivan Tyulenev
Lực lượng
Theo Liên Xô: 190 sư đoàn, 5,5 triệu quân
3.712 xe tăng (chưa kể pháo tự hành)
3.410 xe bọc thép
4.950 máy bay
47.260 pháosúng cối [1]
Theo Đức: 3,2 triệu quân (2,6 triệu tham chiến từ đầu) chưa kể các nước phụ thuộc Đức[2]

3.350 xe tăng, 2.500 máy bay
7.184 pháo (chưa kể súng cối)[3][4]
Theo nguồn thứ ba: 3.767.000 quân Đức và các nước phe Trục[5]
117 sư đoàn bộ binh, 19 sư đoàn Tăng thiết giáp, 15 sư đoàn mô tô cơ giới
3.350 xe tăng
7.200 pháo (chưa kể súng cối)
2.770 máy bay[6]

151 sư đoàn Bộ binh, 32 sư đoàn Kỵ binh, 38 lữ đoàn Công binh
3.359.000 quân
13.981 xe tăng[7](trong đó có 1.861 xe hạng trung và hạng nặng, bao gồm 1475 xe tăng KV và T-34)[8], 9.397 máy bay, trong đó có 7.758 máy bay chiến đấu
52.666 pháo và súng cối
Tổn thất
743.112 chết[9]
500.000 bị thương (theo Liên Xô)
25.000 mất tích (theo Liên Xô)
2.093 máy bay bị bắn rơi[10]
2.758 xe tăng bị phá huỷ (theo Liên Xô).
1.614.244 chết và mất tích
1.310.897 bị thương
1.699.000 [11]-3.400.000[12][13] bị bắt
10.600 máy bay[14]
.

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII[15][16] vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố ArkhangelskAstrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng[17], nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận[18], khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản[19].

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới[20].

Bối cảnh trước chiến dịch

Liên Bang Xô Viết

Từ năm 1933, sau khi Adolf Hitler lên cầm quyền và tái quân sự hóa nước Đức, chính sách nhất quán của Liên Xô là thiết lập một nền an ninh chung tại châu Âu, duy trì vào bảo vệ những điều khoản của Hiệp ước Versailles năm 1919.[21] Chính sách này đã được thể hiện qua việc Liên Xô kiên trì đàm phán với các nước Tây Âu về một hiệp ước an ninh chung nhưng lại gặp phải thái độ nghi ngờ từ phía các đồng minh trong tương lai. Theo nhà sử học Henry Peyner: "Bằng Hiệp ước Munich năm 1938, họ đã thừa nhận việc Đức thôn tính Áo, bỏ mặc Tiệp Khắc cho Đức xâm chiếm và mở cửa cho Đức tấn công sang phía Đông".[22]

Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế - quốc phòng nhưng trang bị vật chất dành cho chiến tranh của Liên Xô vào năm 1941 vẫn thua kém về số lượng so với nước Đức. Các biện pháp tổ chức lại quân đội và thực tập tác chiến theo chiến tranh hiện đại vẫn còn đang trong giai đoạn triển khai.[23] Xét về từng khía cạnh thì mặc dù đã có ý thức và những hành động thiết thực để bảo vệ đất nước nhưng trên cách nhìn tổng thể, Liên Xô vẫn chưa hoàn toàn được chuẩn bị tốt để đón nhận một cuộc chiến tranh tổng lực. Cuộc tấn công bất ngờ ngày 22 tháng 6 năm 1941 của quân đội Đức đã làm bộc lộ toàn diện những điểm yếu của Liên Xô trong chiến lược phòng thủ quốc gia và nó chỉ được sửa chữa triệt để sau những ngày tháng thất bại trên các mặt trận.[24]

Nước Đức Quốc xã

Năm 1939, với thuyết "Không gian sinh tồn" (Lebensraum) do Hitler khởi xướng, phe Trục (Đức, Ý, Nhật) đã có thỏa thuận chia nhau các phần lãnh thổ trên toàn cầu[25]. Đến giữa năm 1941, nước Đức Quốc xã cùng với đồng minh là nước Ý dưới chế độ phát xít Mussolini đã thôn tính hầu hết phần phía Tây lục địa châu Âu (trừ Thụy Sĩ, Thụy Điển) và Tây Ban Nha dưới chế độ độc tài Francisco Franco là một đồng minh thân cận của Hitler.

Bắt đầu từ nước Áo năm 1937, Tiệp Khắc năm 1938, nước Đức tấn công Ba Lan tháng 9 năm 1939, chính thức mở màn Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Đức tấn công Na Uy và Đan Mạch. Ngày 10 tháng 5, Đức tiếp tục chuyển sang tấn công Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và liên quân Pháp-Anh trên lãnh thổ Pháp. Chỉ trong vòng 6 tuần, nước Pháp của Thống chế Philippe Pétain phải ký văn kiện đầu hàng tại rừng Compiègne. Cùng lúc đó, nước Đức cũng chiếm xong Đan Mạch, Na Uy, khống chế Biển BắcBiển Baltic. Từ ngày 7 tháng 9 năm 1940, Không quân Đức Quốc xã (Luftwaffe) mở đầu kế hoạch Kế hoạch Sư tử biển tấn công nước Anh và Hải quân Hoàng gia Anh nhằm dọn đường cho quân Đức đổ bộ. Ngày 14 tháng 11 năm 1941, trung tâm công nghiệp Coventry của Anh bị ném bom hủy diệt. Ngày 6 tháng 4 năm 1941, Đức Quốc xã tấn công Nam TưHy Lạp, buộc Nam Tư đầu hàng ngày 18 tháng 4 và Hy Lạp đầu hàng ngày 27 tháng 4. Ngay sau đó, nhiếp chính vương Hungary Miklós Horthy, thủ tướng Romania Ion Antonescu và vua Bulgaria Boris III cũng tuyên bố đặt đất nước mình dưới sự bảo hộ của Đế chế thứ ba[26].

Trong các chiến dịch ở thời gian này, Quân đội Đức Quốc xã nhanh chóng giành những thắng lợi vang dội bằng phương thức "Chiến tranh chớp nhoáng" (Blitzkrieg), trong đó các mũi thọc sâu tốc độ cao của lực lượng thiết giáp hùng hậu được hỗ trợ của Không quân ở mật độ áp đảo. Với sự tự tin cao độ, Adolf Hitler và các nhà hoạch định quân sự của nước Đức Quốc xã cho rằng đã đến lúc chĩa mũi Blitzkrieg vào Liên Xô để kết thúc cuộc chiến.

Ý đồ tấn công Liên Xô của nước Đức Quốc xã

Vào mùa hè năm 1940, khi Đức bắt đầu gặp phải cuộc khủng hoảng về nguồn nguyên liệu dành cho công nghiệp và khả năng về một cuộc xung đột với Liên Xô tại khu vực Balkan đang đến gần, một cuộc tấn công xâm lược Liên Xô gần như là giải pháp duy nhất đối với Hitler[27]. Trong khi chưa có một kế hoạch cụ thể nào được lập ra, tháng 6 năm 1940, Hitler nói với một trong những tướng lãnh của ông rằng những chiến thắng ở Tây Âu "cuối cùng đã khiến ông ta rảnh tay để lo cho kế hoạch quan trọng thật sự của mình: cuộc quyết đấu một mất một còn với những người Bolshevik"[28]. Mặc dù các tướng lĩnh của Hitler cố khuyên ông rằng chiếm đóng miền Tây nước Nga sẽ rút cạn sinh lực nhiều hơn là giảm nhẹ gánh nặng cho nền kinh tế Đức vào thời điểm hiện tại[29], nhưng vị quốc trưởng Đức lại đề cập đến những lợi ích có được khi đánh bại Liên Xô:

  • Khi Liên Xô bị đánh bại, tình trạng khan hiếm nhân lực trong nền công nghiệp Đức sẽ chấm dứt do một phần lớn binh sĩ Đức sẽ được giải ngũ sau chiến tranh.
  • Ukraina sẽ trở thành nguồn cung cấp lương thực lớn cho Đức Quốc xã.
  • Biến Liên Xô thành nguồn cung cấp lao động nô lệ sẽ góp phần rất lớn trong việc tăng cường vị thế địa chính trị của nhà nước Đức phát xít.
  • Đánh bại Liên Xô sẽ khiến các quốc gia Đồng Minh - đặc biệt là Anh - bị cô lập sâu sắc hơn nữa[30].
  • Nền kinh tế Đức Quốc xã đang cần một nguồn cung cấp dầu mỏ lớn: chiếm được vựa dầu Baku của Liên Xô sẽ giúp Đức đạt được điều đó. Tại tòa án Nürnberg, Albert Speer - Bộ trưởng Bộ vũ trang và công nghiệp chiến tranh của Đức - đã nói trong cuộc thẩm vấn ông: "nhu cầu về dầu mỏ là một động lực chủ yếu" trong quyết định xâm lược Liên Xô của phát xít Đức[31].

Kế hoạch Barbarossa hình thành trong tình hình chính trị - ngoại giao tại châu Âu có nhiều diễn biến phức tạp. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, nước Đức Quốc xã ký kết với Ý, Anh và Pháp Hiệp ước München và kết quả của nó là nước Đức đã thôn tính Tiệp Khắc. Ngày 20 tháng 8 năm 1939, cuộc đàm phán tay ba gồm Liên Xô, Anh, Pháp đã kết thúc thất bại "do một quyết định được coi là dại dột về chính trị của Ba Lan"[32][33] và thái độ thiếu hợp tác của phía Anh[34][35][36]. Thất bại lớn nhất trong cuộc đàm phán tay ba tại Moskva là đã không lập được khối liên minh quân sự giữa ba cường quốc này để bảo đảm cho chính sách an ninh chung châu Âu. Nhằm tránh một cuộc đối đầu Xô-Đức[37][38], ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên Xô đã ký kết với nước Đức Quốc xã Hiệp ước không xâm phạm Xô-Đức kèm theo một nghị định thư bí mật về phân chia vùng ảnh hưởng của hai bên ở Đông Âu. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, nước Đức Quốc xã đã tấn công Ba Lan và chiếm 2/3 lãnh thổ phía Tây nước này sau 10 ngày. Liên Xô cũng đưa quân đội vào vùng Đông Ba Lan để thu hồi lại vùng lãnh thổ phía Tây của Đế quốc Nga trước đây, vốn bị mất vào tay Ba Lan từ thập niên 1920. Ngày 23 tháng 11 năm 1939, chỉ ba tháng sau khi ký hiệp ước không xâm lược với Liên Xô, Hitler tuyên bố:

Như vậy ý định tấn công Liên Xô đã được Hitler ấp ủ từ năm 1939. Đức chưa tiến hành ngay vì họ muốn đánh bại 2 đối thủ là Pháp và Anh để giải quyết mặt trận phía Tây, sau đó mới dồn toàn lực tấn công Liên Xô.

En otros idiomas
Bahasa Indonesia: Operasi Barbarossa
Bahasa Melayu: Operasi Barbarossa
беларуская: План Барбароса
беларуская (тарашкевіца)‎: Плян Барбароса
Кыргызча: «Барбаросса»
norsk nynorsk: Operasjon Barbarossa
oʻzbekcha/ўзбекча: Barbarossa rejasi
Simple English: Operation Barbarossa
slovenščina: Operacija Barbarossa
srpskohrvatski / српскохрватски: Operacija Barbarossa
татарча/tatarça: Barbarossa operatsiäse