Bao thanh toán

Bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính, theo đó một doanh nghiệp bán các khoản phải thu của nó (ví dụ, các hóa đơn) cho một bên thứ ba (gọi là người bao thanh toán) với một chiết khấu.

Trong bao thanh toán "ứng trước", người bao thanh toán cung cấp tài chính cho người bán các khoản phải thu trong hình thức của một tiền mặt "ứng trước," thường 70-85% so với giá mua của các khoản, với số dư của giá mua đã được trả tiền, ròng phí chiết khấu của người bao thanh toán (hoa hồng) và các tính phí khác, khi thu thập từ khách hàng của tài khoản. Trong bao thanh toán "trưởng thành", người bao thanh toán không ứng trước trên các tài khoản đã mua; đúng hơn, giá mua được thanh toán vào hoặc vào khoảng thời gian đáo hạn trung bình của các tài khoản được mua trong cả loạt.

Bao thanh toán không phải là gì?

Bao thanh toán không truy đòi không phải là một khoản vay. Một người cho vay quyết định cấp tín dụng cho một công ty dựa trên tài sản, lưu chuyển tiền tệ và lịch sử tín dụng. Một người bao thanh toán quan tâm nhiều hơn với tín dụng xứng đáng của các khách hàng của công ty.[1][2] Nghiệp vụ bao thanh toán thường được cấu trúc như một mua một tài sản tài chính, cụ thể là các khoản phải thu. Một bao thanh toán không truy đòi giả định "rủi ro tín dụng" mà một tài khoản sẽ không thu được chỉ do không có khả năng tài chính của con nợ tài khoản phải trả. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, nếu bao thanh toán không chịu rủi ro tín dụng trong các tài khoản đã mua, trong hầu hết trường hợp tòa án sẽ xếp loại lại nghiệp vụ này như một cho vay bảo đảm.

Nó khác với forfaiting theo nghĩa forfaiting là một hoạt động dựa trên nghiệp vụ liên quan đến các nhà xuất khẩu, trong đó hãng bán một trong các nghiệp vụ của nó, [3] trong khi bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính liên quan tới việc bán một phần các khoản phải thu của hãng này.[1][2]

Bao thanh toán là một từ thường bị lạm dụng đồng nghĩa với chiết khấu hóa đơn, được gọi là "chuyển nhượng các khoản phải thu" trong Kế toán Mỹ (" Những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung"/ "GAAP" được nhân giống bởi FASB)[2] - bao thanh toán là việc bán các khoản phải thu, trong khi chiết khấu hóa đơn là việc vay khi mà khoản phải thu được sử dụng làm tài sản thế chấp.[2] Tuy nhiên, trong một số thị trường khác, chẳng hạn như Vương quốc Anh, chiết khấu hóa đơn được coi là một hình thức bao thanh toán liên quan đến việc chuyển nhượng các khoản phải thu và được bao gồm trong thống kê bao thanh toán chính thức.[4] Do đó nó không được coi là vay ở Anh. Ở Anh sắp xếp thường được giữ bí mật trong đó con nợ không được thông báo về việc chuyển nhượng khoản phải thu và người bán khoản phải thu tiến hành thu nợ thay cho người bao thanh toán. Tại Anh, khác biệt chính giữa bao thanh toán và chiết khấu hóa đơn là tính bí mật.[5]

En otros idiomas
العربية: تخصيم
azərbaycanca: Faktorinq
Bahasa Indonesia: Anjak piutang
беларуская: Фактарынг
беларуская (тарашкевіца)‎: Фактарынг
български: Факторинг
català: Facturatge
čeština: Faktoring
Deutsch: Factoring
eesti: Faktooring
español: Factoraje
فارسی: فکتورینگ
français: Affacturage
한국어: 채권매입업
Հայերեն: Ֆակտորինգ
italiano: Factoring
қазақша: Факторинг
lietuvių: Faktoringas
magyar: Faktoring
македонски: Факторинг
Nederlands: Factoring
norsk: Factoring
norsk nynorsk: Factoring
polski: Faktoring
português: Fomento mercantil
română: Factoring
русский: Факторинг
Simple English: Factoring (finance)
slovenčina: Faktoring
svenska: Factoring
Türkçe: Faktoring
українська: Факторинг